Máy tính khoản vay miễn phí

Tính khoản thanh toán hàng tháng và xem lịch trả nợ đầy đủ.

Dữ liệu không rời khỏi thiết bị của bạn
Khoản trả hàng tháng được tính như thế nào?

Khoản trả hàng tháng được tính theo công thức khấu hao chuẩn: M = P × [r(1+r)^n] / [(1+r)^n – 1], trong đó P là tiền gốc khoản vay, r là lãi suất hàng tháng (lãi suất năm / 12), và n là tổng số kỳ trả.

Lịch trả nợ là gì?

Lịch trả nợ cho thấy mỗi khoản trả được chia thành phần gốc và phần lãi ra sao. Những kỳ đầu chủ yếu là lãi, nhưng theo thời gian phần trả cho gốc tăng dần. Lịch này giúp bạn thấy rõ dư nợ giảm đi thế nào qua từng tháng.

Lược sử về vay nợ, lãi suất và phân bổ trả góp

Việc vay tiền lâu đời như chính ngành nông nghiệp. Bộ luật cổ nhất còn lưu giữ được, Bộ luật Hammurabi (~1754 TCN ở Babylon), đã quy định trần lãi suất theo luật: 20% mỗi năm cho khoản vay bằng bạc33⅓% cho ngũ cốc. Luật La Mã sau này giới hạn các mức lãi, và lex Genucia (342 TCN) từng cấm lãi vay hoàn toàn trong một thời gian ngắn, tuy việc thực thi không nhất quán. Toán học của lãi kép vào Tây Âu qua cuốn «Liber Abaci» của Leonardo Fibonacci (1202), sách giới thiệu các chữ số Hindu-Arab vào vùng Địa Trung Hải và giải các bài toán lãi kép mà thương nhân thời trung cổ trước đó vẫn tính một cách vụng về bằng chữ số La Mã. Các nhà ngân hàng Florence và Genoa (Medici, Peruzzi, Bardi) tinh chỉnh thực hành này thành kế toán kép hiện đại. Nhà toán học Thụy Sĩ Jacob Bernoulli đã chạm tới hằng số e ≈ 2,71828 năm 1683 khi nghiên cứu giới hạn của lãi kép khi tần suất ghép lãi tiến tới vô cùng: con số chi phối toàn bộ tài chính ghép lãi liên tục đã ra đời từ câu hỏi một khoản tiền gửi có thể giàu lên đến đâu. Công thức phân bổ trả góp dạng đóng M = P × r(1+r)ⁿ / ((1+r)ⁿ − 1) đã là chất liệu sách giáo khoa chuẩn vào cuối thế kỷ XIX. Các khoản vay thế chấp ở Mỹ vẫn ngắn hạn (5-10 năm với khoản thanh toán bóng cuối kỳ) cho đến Đại khủng hoảng: năm 1933, Home Owners' Loan Corporation (HOLC) đã tái cấp vốn các khoản thế chấp vỡ nợ bằng các khoản vay dài hạn trả góp, và năm 1934, Federal Housing Administration (FHA), do Đạo luật Nhà ở Quốc gia thành lập, bảo hiểm cho hình thức trả góp dài hạn ấy, làm nó trở thành khoản vay thế chấp lãi cố định 30 năm hiện đại. Một mảng định hình khác của luật tín dụng tiêu dùng Mỹ là Truth in Lending Act (TILA, 1968), được triển khai qua Quy định Z của Cục Dự trữ Liên bang, buộc bên cho vay phải công bố Lãi suất theo năm (APR) bên cạnh lãi suất danh nghĩa, để người vay có thể so sánh chi phí đã gồm phí giữa các bên cho vay cạnh tranh. Consumer Financial Protection Bureau (CFPB), được Đạo luật Dodd-Frank lập năm 2010 và đi vào hoạt động năm 2011, đã tiếp nhận việc thực thi TILA, RESPA và ECOA, và soạn các biểu mẫu tích hợp «Loan Estimate»«Closing Disclosure» nay là chuẩn cho các khoản vay thế chấp Mỹ. Khoản vay thế chấp lãi cố định 30 năm vẫn là khoản vay nhà chủ đạo ở Mỹ, và công thức phân bổ trả góp ở trên chính là công thức mà nhân viên tín dụng ngân hàng của bạn dùng trên máy tính của mình.

Giải phẫu một khoản trả góp

Các loại vay phổ biến và ai là người vay

Chuẩn mực, quy định và các mốc lịch sử

Các câu hỏi thường gặp khác

Trả thêm vào gốc làm thay đổi lịch trả ra sao?

Một khoản trả thêm vào gốc làm giảm dư nợ ngay lập tức, do đó lãi tháng kế tiếp được tính trên dư nợ nhỏ hơn và phần lớn hơn của mỗi kỳ trả sau đó sẽ chảy vào gốc. Càng trả thêm sớm, tổng lãi tiết kiệm được càng nhiều. 5 000 $ trả thêm ở tháng 1 của một khoản vay thế chấp 30 năm thông thường tiết kiệm được nhiều lãi tổng hơn so với bốn khoản trả thêm 5 000 $ ở năm 25, bởi lãi sẽ tích lũy suốt 29 năm còn lại trên đúng phần gốc mà lẽ ra bạn phải gánh.

Vì sao khoản trả vay thế chấp thực tế hàng tháng của tôi cao hơn con số này?

Vì bên cho vay thường gộp cả thuế bất động sản và bảo hiểm vào hóa đơn hàng tháng qua một tài khoản ký quỹ: đó chính là từ viết tắt PITI (Gốc + Lãi + Thuế + Bảo hiểm). Thuế bất động sản (thường 1-2% giá trị nhà mỗi năm ở Mỹ), bảo hiểm chủ nhà (1 000-3 000 $/năm) và PMI (nếu khoản trả trước dưới 20%) cộng lại. Khoản chi tiêu thực hàng tháng cho một khoản vay thế chấp Mỹ thường cao hơn 25-40% so với con số P&I thuần mà máy tính này trả về.

Tôi nên chọn khoản vay thế chấp 15 năm hay 30 năm?

Khoản 15 năm có lãi suất thấp hơn (thường thấp hơn khoản 30 năm tương đương 0,5-0,75 điểm phần trăm), tổng lãi nhỏ hơn hẳn, và bạn sở hữu trọn ngôi nhà nhanh gấp đôi, nhưng khoản trả hàng tháng cao hơn khoảng 30%. Khoản 30 năm giải phóng dòng tiền và cho phép bạn đầu tư phần chênh lệch; một số nhà hoạch định tài chính lập luận đó là lựa chọn tích lũy tài sản dài hạn tốt hơn nếu bạn đủ kỷ luật để thực sự đầu tư phần chênh lệch ấy. Hãy chạy cả hai kịch bản trong máy tính với lãi suất thực tế cho mỗi loại rồi so sánh.

Máy tính có chính xác cho các khoản vay ngoài nước Mỹ không?

Công thức phân bổ trả góp giống nhau trên toàn cầu cho các khoản vay lãi cố định. Vay thế chấp Anh, vay nhà Úc và vay thế chấp lãi biến đổi Canada đều dùng cùng phép toán. Khác biệt nằm ở tần suất ghép lãi (vay thế chấp Anh và Canada truyền thống dùng ghép lãi nửa năm chứ không phải hàng tháng), khoản phạt trả nợ trước hạn, và các kỳ hạn chuẩn. Khoản trả hàng tháng chính từ máy tính này là đúng miễn là lãi suất và kỳ hạn bạn nhập khớp với cấu trúc khoản vay.

Các con số khoản vay của tôi có được lưu trữ hay gửi đi đâu không?

Không. Máy tính chạy hoàn toàn trong trình duyệt của bạn. Số tiền vay, lãi suất, kỳ hạn và bảng phân bổ trả góp được tính và hiển thị ngay tại chỗ. Không gì được truyền tới máy chủ nào, không sự kiện phân tích nào ghi lại các giá trị này, không danh sách tiếp thị nào ghi nhận dữ liệu bạn nhập. Dữ liệu tìm kiếm khoản vay là thứ rất được các bên cho vay và công ty tạo khách hàng tiềm năng săn đón, và nhiều trang máy tính miễn phí tự nuôi mình bằng cách bán đúng loại thông tin này. Trang này thì không.

Tái cấp vốn (refinance) là gì và khi nào nên làm?

Tái cấp vốn thay thế khoản vay hiện tại của bạn bằng một khoản vay mới, thường ở lãi suất thấp hơn hoặc kỳ hạn khác. Quy tắc thô: tái cấp vốn hợp lý khi lãi suất mới thấp hơn lãi suất hiện tại ít nhất 0,5-1% và bạn sẽ ở lại bất động sản đủ lâu để bù lại chi phí đóng giao dịch (thường 2-5% số tiền vay). Dùng máy tính này hai lần (một lần với khoản vay hiện tại, một lần với khoản vay sau khi tái cấp vốn) và so sánh tổng lãi cộng với chi phí đóng giao dịch để xem trong tình huống của bạn, phép toán có thật sự có lợi hay không.

Công cụ liên quan